Đưa bản làng về phố: Từ bảo tồn thuần túy đến tạo giá trị kinh tế bền vững

Rời những bản làng cheo leo nơi đại ngàn để về định cư giữa lòng Thủ đô, đồng bào các dân tộc thiểu số tại đang viết nên một chương mới cho cuộc đời mình. Đưa bản làng về phố: Từ bảo tồn thuần túy đến tạo giá trị kinh tế bền vững.

Đến với Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây), du khách không chỉ thưởng thức nét văn hóa rất riêng của từng dân tộc, những âm thanh sống động. Hơn hết, tiếng khèn và nhịp chày giã gạo đó còn là nhịp đập của một cuộc sống mới đầy no ấm. 

Các bạn sinh viên vui vẻ ca múa cùng bài hát dân tộc người Khơ Me. Ảnh: Nguyễn Thương

 Trong chuyến điền dã của tập thể lớp Báo chí 15B – K66 (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), chúng tôi không chỉ đến để quan sát hay ghi chép. Chúng tôi đến và được chạm vào một câu chuyện rất thật, rất sống động về sự hồi sinh của di sản.

Ở nơi ấy, những giá trị từng tưởng chỉ còn hiện diện trong ký ức hay sau lớp kính bảo tồn đã bước ra đời sống thường nhật, hiện hữu trong từng bàn tay lao động, từng nếp nhà, từng ánh mắt của người dân. Di sản không còn là thứ để ngắm nhìn từ xa, mà đã trở thành nguồn sống, thành sinh kế bền vững, giúp những nghệ nhân chân đất tự tin đi tiếp bằng chính vốn quý cha ông để lại. Đó không chỉ là một cuộc chuyển mình của làng nghề, mà còn là hành trình đánh thức niềm tin rằng văn hóa, khi được gìn giữ đúng cách, hoàn toàn có thể nuôi dưỡng con người trong hiện tại và mở lối cho tương lai.

Hành trình rời bản lên phố

Đi sâu vào bên trong không gian của Làng Văn hóa, mỗi dân tộc được gói gọn sau những cánh cổng đề tên riêng không chỉ là những công trình kiến trúc vô hồn, mà là cả một thế giới chứa đựng những câu chuyện đời rất riêng của mỗi con người đang hiện diện tại đây.

Đó không chỉ là nơi trưng bày hiện vật, mà là nơi những người con xa xứ như anh A Chương( người dân tộc Xơ Đăng, Gia Lai) gửi gắm cả một hành trình thay đổi tâm thức. Anh bộc bạch:  “Ở quê, mình khó tiếp xúc được nhiều, quê ở nông thôn. Nói chung là ít tiếp xúc với người, đi làm rồi ngủ, không có làm gì hết… Thỉnh thoảng có nói tiếng Kinh nhưng mà mình hơi e ngại, bởi vì cũng không tiếp xúc được nhiều ở nhà”.

Từ một người thanh niên vốn chỉ quen với nhịp sống nơi bản làng nông thôn, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài và còn đầy e ngại khi nói tiếng Kinh, anh đã quyết định rời bản để tìm kiếm một hướng đi mới. Hành trình ấy, anh chia sẻ lúc mới bắt đầu từ sự ngỡ ngàng khi lần đầu thấy những điều bình dị như quả dừa, cây cọ -những thứ vốn chỉ thấy qua tivi- để rồi dần trở nên lạc quan, tự tin hơn nhờ việc giao lưu với khách thập phương. 

Tại đây, mỗi câu nói, mỗi cách ăn cách ở của người Xơ Đăng hay các dân tộc anh em khác không còn là rào cản, mà trở thành vốn quý để họ kết nối và giới thiệu bản sắc của mình với thế giới. Ngoài ra, họ cũng luôn tự trấn an mình, luôn cố gắng vì quê hương, A Chương chia sẻ : “”Lần này em cảm thấy tự tin hơn và mình sẽ ráng cải thiện cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Nếu mình cảm thấy cái đó nặng nề thì nó nặng nề, mình cảm thấy nó bình thường thì nó rất là bình thường… khi mình cố gắng là được.”

Anh A Chương người dân tộc Xơ Đăng người con Gia Lai. ảnh: Trung Hoàng

Giữa không gian văn hóa rực rỡ sắc màu của các dân tộc, tại đây chúng tôi bắt gặp hình ảnh chị Đinh Thị Nha (sinh năm 2000), một cô gái Ba Na trẻ tuổi, tỉ mỉ bên khung cửi đã trở thành một biểu tượng đẹp của sự tiếp nối thế hệ. 

Nha rời quê hương để ra đây làm việc theo lời mời của Bộ Văn hóa, với mong muốn quảng bá và bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình. Tại đây, cô không chỉ dệt vải mà còn tham gia múa hát, đánh cồng chiêng để đón tiếp khách du lịch. Dù xa quê có những lúc nhớ nhà, nhưng với lòng yêu bản sắc dân tộc mãnh liệt, Đinh Thị Nha vẫn miệt mài bên khung cửi, dùng đôi bàn tay khéo léo của mình để dệt nên những khát vọng phát triển kinh tế từ chính nguồn cội văn hóa Ba Na.

Chị Đinh Thị Nha( 20 tuổi) người Ba Na dệt thổ cẩm thủ công. Ảnh: Nguyễn Thương

Nhìn vào hành trình của họ, ta thấy toát lên một tình yêu quê hương da diết hòa quyện cùng khát vọng phát triển kinh tế bền vững. Việc tận dụng những nét đặc trưng riêng biệt trong phong tục, lối nói và sản phẩm truyền thống không chỉ là cách để mưu sinh, mà là một chiến lược phát triển kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc. Họ tin rằng khi văn hóa được trân trọng và lan tỏa, cuộc sống sẽ trở nên “nhẹ nhàng hơn”, và đó chính là cách bền vững nhất để vừa giữ được hồn cốt quê hương, vừa tự tin vững bước trong dòng chảy của thời đại mới.

Thu nhập trực tiếp từ những sản phẩm trưng bày

Bước chân vào không gian trưng bày, du khách không khỏi choáng ngợp trước những bộ váy áo thổ cẩm rực rỡ sắc màu được treo trang trọng. Đây không chỉ là trang phục, mà là những tác phẩm nghệ thuật kết tinh từ đôi bàn tay khéo léo. Những tấm vải dệt tay với hoa văn đối xứng tinh xảo, bộ váy áo truyền thống, hay đặc sản quê hương chính là những sản phẩm chủ đạo tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp. Cách họ quảng bá không hề cầu kỳ bằng biển hiệu hay quảng cáo xa hoa, mà chính là sự trải nghiệm thực tế: du khách được tận mắt chứng kiến sản phẩm, những trò chơi dân gian, những điệu múa văn hoá. 

Nói về giá trị của những sản phẩm văn hoá người Ba Na, chị Đinh Thị Nha chia sẻ đầy chân thật: “Để dệt được một tấm vải có hoa văn như thế này, em phải làm liên tục gần hai tháng. Phải nhớ cái bụng thì mới dệt được, sai một sợi là phải tháo ra làm lại hết. Một chiếc khăn em bán khoảng 200.000 đồng, thực sự là rất rẻ so với công sức mình bỏ ra từ khâu cuốn sợi đến lúc lên khung, nhưng em vui vì khách họ thích và họ hiểu được cái công của người Ba Na mình.” 

Không chỉ dừng lại ở váy vóc hay thổ cẩm, nét văn hóa sống động còn len lỏi vào từng chi tiết nhỏ nhất trong đời sống thường nhật được tái hiện tại đây. Ngay cả những con gà bản được nuôi thả quanh hiên nhà sàn cũng trở thành một phần của trải nghiệm văn hóa. Chúng không chỉ là thực phẩm, mà là hiện thân của nếp sống thuận tự nhiên, mang hơi thở của đại ngàn về với miền xuôi. Cách họ đưa con gà, hạt ngô hay khung cửi vào không gian trưng bày đã biến những điều bình dị nhất thành một “hệ sinh thái văn hóa” có sức hút kỳ lạ, giúp người dân vừa bảo tồn được bản sắc, vừa có thêm nguồn lực kinh tế để vững tin bám nghề.

Chú gà vùng xuôi được nuôi theo cách miền núi của người Ba Na. Ảnh: Nguyễn Thương

Nếu thổ cẩm của người Ba Na là câu chuyện về đôi bàn tay khéo léo, thì đặc sản truyền thống của người Thái lại là một “đại sứ văn hóa” đầy sức hút, không chỉ là món ăn thường nhật mà đã trở thành sản phẩm trưng bày có giá trị kinh tế cao. Việc thương mại hóa các đặc sản này được thực hiện dựa trên nguyên tắc giữ gìn bản sắc sống động. Sản phẩm khi được bán ra không chỉ là thực phẩm, mà là câu chuyện về kỹ thuật bảo quản thức ăn độc đáo của tổ tiên để lại, như những chiếc chum nhỏ đựng thực phẩm. Những nghệ nhân người Thái cũng tỉ mỉ trong từng khâu. Họ hiểu rằng, khi đưa những món quà của núi rừng xuống miền xuôi, giá trị nằm ở sự “thật” và “sạch”.

Những đặc sản người Thái được trưng bày. Ảnh: Nguyễn Thương

Khi người Thái mang những giá trị ấy ra giới thiệu, họ không chỉ tạo ra nguồn thu nhập, mà còn thắp lên một sự tò mò và hứng thú rất đặc biệt nơi các bạn sinh viên và du khách trẻ – những người đang đi tìm lại sự nguyên bản giữa một thế giới ngày càng công nghiệp hóa. Trong từng sản phẩm mang đậm hương vị quê hương, người ta không chỉ nhìn thấy cái đẹp, mà còn cảm nhận được cả một đời sống văn hóa đang hiện hữu. Và chính từ đó, người Thái đã lặng lẽ khẳng định một điều giản dị mà sâu sắc: văn hóa không chỉ để chiêm ngưỡng, mà còn có thể trở thành nguồn lực bền vững, nuôi dưỡng con người và mở ra những con đường phát triển lâu dài.

Sử dụng việc quảng bá văn hoá để phát triển kinh tế

Quảng bá văn hóa hôm nay không còn dừng lại ở việc gìn giữ những giá trị cũ, mà đã trở thành một hướng đi kinh tế thông minh và bền vững. Thay vì tạo ra những sản phẩm công nghiệp thiếu linh hồn, những người như anh Chương hay chị Nha đang mang đến cho du khách một điều sâu sắc hơn – đó là một trải nghiệm sống.

Khi văn hóa bước ra khỏi không gian tĩnh lặng của bảo tàng để hiện diện trong đời sống thường ngày, nó trở nên sống động và giàu giá trị hơn bao giờ hết. Chính những khác biệt trong phong tục, nếp sống và bản sắc riêng của mỗi cộng đồng đã trở thành sức hút đặc biệt – một “thỏi nam châm” khiến du khách không chỉ tò mò khám phá, mà còn sẵn sàng chi trả để được chạm vào, được trải nghiệm và được cảm nhận.

Đặc biệt, sức sống của nền kinh tế văn hóa này được tiếp thêm năng lượng bởi sự hứng thú của thế hệ trẻ. Hình ảnh các bạn sinh viên miền xuôi say sưa tìm hiểu cách chơi một nhạc cụ dân tộc, hay hào hứng hòa mình vào văn hoá truyền thống đã minh chứng cho sức hút mãnh liệt của di sản. Đối với chúng tôi – những người trẻ miền xuôi, thì đây không chỉ là một chuyến tham quan, mà là một cuộc học hỏi đầy cảm hứng về nguồn cội. 

Các bạn trẻ thích thú trải nghiệm nhạc cụ truyền thống người Xơ Đăng. Ảnh: Nguyễn Thương

Khi mỗi du khách, mỗi sinh viên rời đi với những trải nghiệm chân thực và cảm xúc đọng lại, họ vô tình trở thành những “đại sứ văn hóa” mang câu chuyện ấy lan tỏa rộng hơn. Đó chính là cách quảng bá tự nhiên, ít tốn kém nhưng lại bền vững và hiệu quả nhất.

Khi văn hóa không chỉ là niềm tự hào mà còn trở thành phương tiện mưu sinh, những người nghệ nhân trẻ sẽ có thêm lý do để ở lại, để gắn bó với bản làng, gìn giữ nghề truyền thống. Và từ chính những nét đẹp riêng biệt ấy, họ đang từng bước biến văn hóa thành nguồn lực kinh tế, vừa cải thiện đời sống, vừa khẳng định bản sắc của dân tộc mình trong dòng chảy hội nhập.

Thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Thương

Rate this post
error: Content is protected !!